Thứ tư, ngày 13 tháng 12 năm 2017
Chào mừng bạn đến với Website trường THPT Chu Văn An - Quảng Trị
Hình ảnh hoạt động
Tổng truy cập

Đại hội đồng UNESCO coi Người là một biểu tượng nổi bật về tinh thần quả cảm của dân tộc, bởi Người đã cống hiến cả đời mình cho sự nghiệp giải phóng đất nước và dân tộc Việt Nam, qua đó góp phần vào cuộc đấu tranh chung của toàn nhân loại vì hòa bình, độc lập, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Đại hội đồng cũng cho rằng những đóng góp quan trọng về nhiều mặt của Người trong các lĩnh vực văn hóa, giáo dục và nghệ thuật kết tinh truyền thống văn hóa của người Việt Nam, một truyền thống có từ nhiều nghìn năm trước, và những lý tưởng của Người tiêu biểu cho khát vọng của các dân tộc khác trên thế giới bởi họ đấu tranh nhằm khẳng định bản sắc văn hóa của mình và thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau…

Bà C.Ma-rin (Katherine Muller-Marin), Trưởng đại diện Văn phòng UNESCO tại Hà Nội, đã dành những lời tốt đẹp này để nói về Chủ tịch Hồ Chí Minh, tại Hội thảo khoa học quốc tế về Người, được tổ chức hôm qua tại Hà Nội.

Khẳng định sự tôn vinh của UNESCO (Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc) với Chủ tịch Hồ Chí Minh, bà C.Ma-rin nói: “Tôi có mặt tại đây ngày hôm nay để hoàn thành sứ mệnh của nghị quyết được Đại hội đồng UNESCO thông qua tại khóa họp lần thứ 24 của cơ quan này tại Pa-ri năm 1987, về việc kỷ niệm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị Anh hùng dân tộc và nhà văn hóa lớn… Đại hội đồng UNESCO cho rằng, việc thế giới kỷ niệm ngày sinh của những nhà văn hóa và trí thức kiệt xuất sẽ góp phần đạt được những mục tiêu của UNESCO và thúc đẩy sự hiểu biết giữa các quốc gia.

Để tôn vinh những đóng góp to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong lĩnh vực văn hóa, khoa học, giáo dục của Việt Nam và thế giới… bà C.Ma-rin nhấn mạnh: “Đại hội đồng đã khuyến nghị các quốc gia thành viên tham gia vào việc kỷ niệm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh thông qua việc tổ chức các sự kiện thể hiện tưởng nhớ về Người, nhằm phổ biến tầm vóc lớn lao của lý tưởng và sự nghiệp giải phóng dân tộc của Người. Đại hội đồng cũng đề nghị Tổng giám đốc UNESCO có những biện pháp thích hợp để kỷ niệm ngày sinh của Người và hỗ trợ các hoạt động kỷ niệm được tổ chức trong dịp này, đặc biệt những sự kiện diễn ra tại Việt Nam”.

Bà C.Ma-rin (bên phải) trao đổi với các đại biểu dự Hội thảo
Bà C.Ma-rin (bên phải) trao đổi với các đại biểu dự Hội thảo

Để nhấn mạnh thêm công lao, sự đóng góp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trao đổi với phóng viên bên lề Hội thảo khoa học quốc tế “Di sản Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay”, bà C.Ma-rin xúc động nói: “Chủ tịch Hồ Chí Minh có rất nhiều điều làm tôi ấn tượng, bản thân tôi đã nghiên cứu về Chủ tịch Hồ Chí Minh xem tại sao người dân Việt Nam lại ngưỡng mộ Chủ tịch Hồ Chí Minh đến như thế, và tôi đã hiểu được tình cảm và lý tưởng của Người. Khi Chủ tịch Hồ Chí Minh được tôn vinh là biểu tượng của dân tộc thì chắc hẳn phải có điều gì đó và  điều quan trọng nhất ở Chủ tịch Hồ Chí Minh là khả năng đoàn kết và tập hợp mọi người. Làm thế nào Người làm được điều đó? Người đã đoàn kết và tập hợp được nhiều người vì Người làm cho mọi người tự tin vào bản thân mình, tự hiểu mình nhiều hơn và làm cho mọi người có thể hợp tác và sống hòa thuận với nhau, đoàn kết với nhau... Một trong những điều tôi ấn tượng nhất ở Chủ tịch Hồ Chí Minh đó là người luôn quan tâm, giáo dục cho người dân biết đọc, viết… và đấy cũng là ý tưởng của UNESCO. Để người dân biết đọc biết viết, Người còn quan tâm xem làm thế nào để người dân có sách để đọc, có bút để viết… Ngoài ra, tôi rất thích những nỗ lực của Người trong bảo tồn di sản văn hóa dân tộc, điều thú vị là tất cả các lĩnh vực Người làm đều thuộc những thẩm quyền UNESCO quan tâm”.

Bà C.Ma-rin tâm sự: “Điều quan trọng nhất tôi thấy từ di sản của Chủ tịch Hồ Chí Minh là việc Người đã chỉ cho dân tộc Việt Nam biết cách sống hòa thuận và xây dựng mối quan hệ bang giao hòa hiếu với các dân tộc khác như thế nào, biết đóng góp vào sự nghiệp chung cho nhân loại… Những gì tôi cảm nhận được từ Người thực sự mang những phẩm chất của một con người anh hùng”.

(ST)

Ngày 19 tháng 5 năm 1890, dưới chế độ Pháp thuộc, tại một làng nhỏ ven sông Lam thuộc huyện Nam Đàn tỉnh Nghệ An, cách thành phố Vinh 15 km, đã ra đời một cậu bé, được đặt tên Nguyễn Sinh Cung, sau đổi tên là Nguyễn Tất Thành. Thân phụ là một nhà nho, thân mẫu vừa làm nghề dệt vải, vừa làm ruộng. Lúc ấy có ai biết được là con người này sẽ trở thành Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ vĩ đại đầu tiên của một nước Việt Nam độc lập, người đã được UNESCO suy tôn là ANH HÙNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC - NHÀ VĂN HÓA KIỆT XUẤT.

Mang trong mình truyền thống hiếu học của gia đình, từ tuổi lên 8, cậu đã học chữ Hán. Năm 13 tuổi cậu đã học tiếng Pháp tại trường tiểu học Vinh, tiếp đó học tại trường Quốc học Huế.

Ngôi nhà tranh ở làng Hoàng Trù (tức làng Trù - Nghệ An) là nơi sinh, quê ngoại Hồ Chủ tịch

Thời niên thiếu, Nguyễn Tất Thành đã phải chứng kiến cảnh đói khổ và thân phận nô lệ của đồng bào mình, cậu đã sớm nuôi ý chí giành độc lập cho Tổ Quốc, tự do và no ấm cho đổng bào.

Ngày 5 tháng 6 năm 1911, ở tuổi 21, từ bến cảng Nhà Rồng của thành phố Sài Gòn, Nguyễn Tất Thành đã rời Việt Nam ra đi trên con tàu Pháp mang tên Đô đốc La-tu-sơ Tơ-rê-vin. Cũng từ đó, Người đã dành toàn bộ trí tuệ và sức lực của mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Trong hơn 10 năm, Người đã làm những nghề khó nhọc nhất, làm bồi tàu, làm vườn, thợ rửa ảnh, quét tuyết, phụ việc cho nhà bếp ở khách sạn Các-lơ-tơn tại Anh. Người đã từng sống ở Pháp, đi vòng quanh bờ biển Châu Phi, sống ở Mỹ, Anh rồi lại trở về Pháp, theo lời Người nói là “Xem xét họ làm ăn thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta”.

Con tàu La-tu-sơ Tơ-rê-vin

Những tháng năm đó, Người đã nghiên cứu Cách mạng Pháp, Cách mạng Mỹ, Cách mạng Nga, nghiên cứu các tổ chức Quốc tế và thực tế của nhiều nước để xây dựng các tổ chức cho Cách mạng Việt Nam. Người đã tham gia Đảng cộng sản Pháp, Quốc tế cộng sản, và ngày 3 tháng 2 năm 1930, Người đã thành lập ra Đảng Cộng sản Đông Dương (sau này thành Đảng Lao động Việt Nam và Đảng Cộng sản Việt Nam).

Ngôi nhà số 9, ngõ Com-poăng (Pari) Người ở trọ từ năm 1920 đến 1923

Là nhà báo xuất sắc, ngay từ những năm 20 (thế kỷ XX), Người đã viết bài cho nhiều tờ báo, nhằm tố cáo tội ác dã man của bọn thực dân, nỗi khổ của người dân thuộc địa, thức tỉnh nhân dân Việt Nam đoàn kết lại để tìm con đường giải phóng dân tộc.

Danh thiếp của Hồ Chủ tịch trong thời gian Người ở Pháp

Thành công trong việc tổ chức lực lượng cách mạng nhưng người đã từng bị bắt giam tại nhà tù Victoria (Hồng Kông) năm 1931 và bị giải tới giải lui qua 18 nhà tù trên đất Quảng Châu (Trung Quốc) những năm 1942-1943 .

Ngục trung nhật ký, Hồ Chủ tịch viết trong thời gian bị bắt tại Trung Quốc

Ngày 19 tháng 5 năm 1941, Người đã thành lập ra Việt Nam Độc lập Đồng minh (Việt Minh), tạo nên khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đấu tranh giành độc lập. Tháng 8 năm 1945, kịp thời đón lấy cơ hội thuận lợi, Việt Minh đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại quảng trường Ba Đình (Hà Nội), Người đã đọc Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, với câu mở đầu bất hủ “Mọi dân tộc đều có quyền bình đẳng...”, và lời nói gần gũi “Tôi nói đồng bào có nghe rõ không?” đã lắng lại trong trái tim của người dân Việt Nam qua biết bao thế hệ.

Những ngày tháng 8-1945 ở Hà Nội

Là người lãnh đạo đất nước, bên cạnh nhưng việc lớn và đối nội đối ngoại, Người luôn quan tâm đến việc nâng cao đời sống của nhân dân, mở mang giáo dục để dân được học hành. Người thường xuyên đi thăm dân để hiểu về đời sống của dân, động viên nhân dân đẩy mạnh sản xuất, thực hành tiết kiệm, phát huy truyền thống yêu nước nhân ái và tinh thần đại đoàn kết dân tộc vĩ đại như Người đã từng nói trong lời hiệu triệu tổng khởi nghĩa “… dù các từng lớp sĩ, nông, công, thương, binh, gồm đủ các dân tộc Việt, Thổ, Nùng, Mường, Mán. Trong Việt Minh, đồng bào ta bắt tay nhau chặt chẽ, không phân biệt trai, gái, già, trẻ, lương giáo, giàu nghèo”.

"Người ngồi đó với cây chì đỏ
Vạch đường đi từng bước, từng giờ"

(Tố Hữu)

Hồ Chủ tịch cùng dân tát nước chống hạn (Tỉnh Hà Tây)

Bình sinh, Hồ Chủ Tịch vẫn thường nói “Một ngày mà Tổ Quốc chưa thống nhất, đồng bào còn chịu khổ, là một ngày tôi ăn không ngon, ngủ không yên”.

Cả cuộc đời, Người đã dồn hết trí tuệ và sức lực để mưu cầu hạnh phúc cho nhân dân. Cho đến trước lúc ra đi, Người đã để lại di chúc cho toàn Đảng, toàn dân và bạn bè năm châu, có đoạn viết: “Suốt đời tôi hết lòng, hết sức phục vụ Tổ Quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay, dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa".

Bác Hồ là con người như thế! Người sống mãi trong lòng nhân dân Việt Nam và bạn bè thế giới.

Hồ Chí Minh là anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa kiệt xuất. Sự tôn vinh này của UNESCO khẳng định những đóng góp to lớn của Hồ Chí Minh cho dân tộc Việt Nam cũng như cho nhân loại. Tìm hiểu về Hồ Chí Minh với tư cách là danh nhân văn hóa kiệt xuất, có thể thấy rất rõ văn hóa Hồ Chí Minh là sự kết tinh tinh hoa văn hóa dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại, đồng thời Người cũng là nhà sáng tạo văn hóa lớn.

Chủ tịch Hồ Chí Minh

Văn hóa Hồ Chí Minh được hình thành trong cái nôi văn hóa dân tộc và nhất là trong quá trình Người tìm đường cứu nước và lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Quá trình này nằm trong bối cảnh văn hóa Việt Nam có sự giao lưu và tiếp biến văn hóa mạnh mẽ với văn hóa nhân loại. Có thể nói văn hóa Hồ Chí Minh đã được hình thành từ quá trình Hồ Chí Minh, với tư cách là chủ thể văn hóa, tiếp nhận tinh hoa văn hóa dân tộc Việt Nam và tinh hoa văn hóa nhân loại.

Văn hóa Hồ Chí Minh đã kết tinh được những gì tinh túy nhất của văn hóa Việt Nam, trong đó nổi bật nhất là chủ nghĩa yêu nước và lòng nhân ái. Hồ Chí Minh đã viết những dòng đầy tâm huyết: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi, kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn. Nó lướt qua mọi nguy hiểm khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”. Yêu nước gắn liền với thương dân là đạo lý truyền thống của dân tộc. Đạo lý này đã được Hồ Chí Minh kế thừa và phát huy. Trước cảnh nước mất, người dân lầm than nô lệ, Hồ Chí Minh đã quyết tâm đi theo con đường cứu nước và trở thành nhà ái quốc vĩ đại với “một sự ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”. Ra đi tìm đường cứu nước, Người đã lấy tên là Nguyễn Ái Quốc. Khi nước nhà giành được độc lập, đứng trên Lễ đài đọc Tuyên ngôn Độc lập, Người đã ân cần, thân thiết hỏi quốc dân đồng bào: “Tôi nói đồng bào nghe rõ không?”. Yêu nước, thương dân đã thành điều tâm niệm thiêng liêng nằm sâu trong tâm thức và tâm cảm của nhà cách mạng – nhà văn hóa lớn Hồ Chí Minh.

Hồ Chí Minh luôn coi trọng tìm tòi, chắt lọc những tinh hoa, những yếu tố tích cực của văn hóa Phương Đông, nhất là của Nho giáo, Phật giáo. Trong các tác phẩm của mình, Người nhiều lần vận dụng các khái niệm, phạm trù, luận điểm của Nho giáo nhưng gắn vào đấy những nội dung cách mạng của thời đại. Chẳng hạn Người vận dụng các khái niệm “trung”, “hiếu” của Nho giáo và phát triển thành “trung với nước, hiếu với dân”. Hồ Chí Minh tiếp thu tư tưởng đại từ, đại bi, cứu khổ cứu nạn của Phật giáo và hướng cho mọi người “làm theo lòng đại từ đại bi của Đức Phật Thích Ca, kháng chiến để đưa giống nòi ra khỏi cái khổ ải của nô lệ”. Hồ Chí Minh đã được tiếp xúc với văn hóa phương Tây ngay từ thuở thiếu thời khi theo học lớp dự bị trường tiểu học Pháp. Những tư tưởng của văn hóa phương Tây như tự do, bình đẳng, bác ái đã sớm có ảnh hưởng lớn đến việc hình thành văn hóa Hồ Chí Minh. Sau này, khi bôn ba qua Pháp và nhiều nước khác, Hồ Chí Minh còn được tiếp cận với các giá trị văn hóa nổi bật khác của phương Tây như chủ nghĩa nhân văn, tinh thần duy lý và văn hóa dân chủ. Những giá trị văn hóa như vậy đã được hợp dung trong văn hóa Hồ Chí Minh và được Người vận dụng sáng tạo vào việc lãnh đạo sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc cũng như công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa sau này.

Trong quá trình hình thành văn hóa Hồ Chí Minh, chủ nghĩa Mác – Lênin có một vị trí đặc biệt quan trọng. Chủ nghĩa Mác – Lênin như ngọn hải đăng soi đường chỉ lối cho cách mạng Việt Nam. Đến với chủ nghĩa Mác – Lênin cũng có nghĩa là Hồ Chí Minh đã tìm được con đường cứu nước đúng đắn nhất. Người đã khẳng định dứt khoát chủ nghĩa Mác – Lênin là “Chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất”. Chủ nghĩa Mác – Lênin đã được Hồ Chí Minh tiếp thu và vận dụng sáng tạo vào thực tiễn cách mạng Việt Nam. Những giá trị của nó đã trở thành một nền tảng cơ bản của văn hóa Hồ Chí Minh.

Như vậy, có thể thấy văn hóa Hồ Chí Minh là sự kết tinh tinh hoa văn hóa dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại, từ đó hình thành một văn hóa tiên tiến, cách mạng, có tính nhân văn sâu sắc. Có được điều này bởi Hồ Chí Minh đã không ngừng học hỏi. Những điểm đặc sắc của văn hóa nhân loại đã ghi dấu ấn sâu đậm trong tư tưởng Hồ Chí Minh, hòa quyện nhuần nhị trong văn hóa Hồ Chí Minh để từ đó tỏa sáng thông qua lăng kính tư duy sắc sảo và minh triết của Người. Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng:

“Học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm của nó là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân.

- Tôn giáo của Giêsu có ưu điểm của nó là lòng nhân ái cao cả.

- Chủ nghĩa Mác có ưu điểm của nó là phương pháp làm việc biện chứng.

- Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm của nó là chính sách của nó phù hợp với điều kiện nước ta”.

Và Người nhấn mạnh:” Khổng Tử, Giêsu, Mác, Tôn Dật Tiên chẳng có những điểm chung đó sao? Họ đều muốn mưu hạnh phúc cho loài người, mưu phúc lợi cho xã hội... Tôi cố gắng làm học trò nhỏ của các vị ấy”. Cũng cần nói thêm rằng tinh thần học tập suốt đời cũng là một nét đặc sắc trong văn hóa Hồ Chí Minh. Không chỉ ở giai đoạn đầu mà ở cả những giai đoạn sau cho đến cuối đời, Hồ Chí Minh đều không ngừng học tập để làm giàu vốn văn hóa của mình. Người đã nêu tấm gương sáng về học tập.

Khi tìm hiểu Hồ Chí Minh – nhà văn hóa kiệt xuất, cùng với việc khẳng định văn hóa Hồ Chí Minh là sự kết tinh những tinh túy của văn hóa dân tộc và văn hóa nhân loại, cũng cần thấy rõ Hồ Chí Minh là một nhà sáng tạo văn hóa lớn.

Có thể thấy Hồ Chí Minh là một nhà văn hóa đa tài. Người là nhà thơ, nhà báo, nghệ sĩ nhiếp ảnh, nhà điêu khắc vv... Nhưng sự nghiệp văn hóa lớn nhất, quan trọng nhất của Hồ Chí Minh là đã tìm được con đường cứu nước đúng đắn và lãnh đạo thành công sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, giành độc lập tự do cho đất nước, hạnh phúc cho nhân dân. Sự nghiệp giải phóng dân tộc do Hồ Chí Minh lãnh đạo đã đem lại địa vị xứng đáng cho văn hóa dân tộc Việt Nam. Không chỉ vậy, sự nghiệp này còn có ý nghĩa to lớn đối với nền văn hóa thế giới, chỉ ra cho nhân dân các nước thuộc địa con đường đứng lên đập tan xích xiềng nô lệ, giành độc lập tự do cho đất nước của mình, từ đó góp phần vào việc xóa bỏ chế độ thuộc địa trên thế giới. Có thể nói Hồ Chí Minh với tư cách là nhà văn hóa kiệt xuất đã góp phần không chỉ tạo ra một chế độ mới, một thời đại mới mà còn tạo ra một nền văn hóa mới trong lịch sử phát triển của dân tộc Việt Nam, đồng thời cũng góp phần to lớn vào sự phát triển của nhân loại nói chung và sự phát triển văn hóa nhân loại nói riêng. Không phải là ngẫu nhiên mà bằng sự linh cảm và khả năng trực giác, ngay từ năm 1923, khi tiếp xúc với Người, nhà thơ Xô - Viết Ôxip Mandextam đã tiên đoán: “Từ Nguyễn Ái Quốc tỏa ra một nền văn hóa, không phải văn hóa châu Âu, mà có lẽ là một nền văn hóa của tương lai... Qua cử chỉ cao thượng, tiếng nói trầm lắng của Nguyễn Ái Quốc, tôi như thấy được ngày mai, như thấy được viễn cảnh trời yên bể lặng của tình hữu ái toàn thế giới bao la như đại dương”. 

( ST )

Lịch sử ngày Quốc tế Phụ nữ, ngày 8 -3

Ngày Quốc tế Phụ nữ là thành quả đấu tranh lâu dài và lặng lẽ của hàng triệu phụ nữ trên thế giới.

  • Trước đây do trọng nam khinh nữ, nên phận làm nữ chịu nhiều thiệt thòi nhất hàng thế kỷ.
  • Lịch sử đấu tranh mới chỉ bắt đầu từ Thời cổ Hy Lạp, Lysistrata cuộc tranh đấu chống lại nam giới để chấm dứt chiến tranh.


Lịch sử của ngày Quốc Tế Phụ nữ bắt đầu từ năm 1857 đến 1911.

  • Ngày 8 tháng 3 năm 1857, các công nhân ngành dệt chống lại những điều kiện làm việc khó khăn và tồi tàn của họ tại Thành phố New York: 12 giờ làm việc một ngày. Hai năm sau, cũng trong tháng 3, các nữ công nhân Mỹ trong hãng dệt thành lập công đoàn (syndicat) đầu tiên đã được bảo vệ và giành được một số quyền lợi.
  • 50 năm sau, ngày 8 tháng 3 năm 1908, 15.000 phụ nữ diễn hành trên các đường phố New York để đòi được giảm giờ làm việc, lương cao hơn và hủy bỏ việc bắt trẻ con làm việc. Khẩu hiệu của họ là "Bánh mì và Hoa hồng" (Bread and Roses). Bánh mì tượng trưng cho bảo đảm kinh tế gia đình, hoa hồng tượng trưng cho đời sống tốt đẹp hơn. Sau đó, Đảng Xã hội Mỹ tuyên bố Ngày Quốc tế Phụ nữ là ngày 28 tháng 2 năm 1909.
  • Trong Hội nghị phụ nữ do Quốc tế thứ II (Quốc tế Xã hội chủ nghĩa) tổ chức ngày 8 tháng 3 năm 1910, 100 đại biểu phụ nữ thuộc 17 nước đòi quyền bầu cử cho phụ nữ. Chủ tịch là Clara Zetkin, phụ nữ Đức, đã đề nghị chọn một ngày quốc tế phụ nữ để nhớ ơn những phụ nữ đã đấu tranh trên toàn thế giới. Hội nghị đã chọn ngày 8 tháng 3 làm Ngày Quốc tế Phụ nữ. Ngày đó năm 1911 đã được hơn một triệu người tham gia trong các nước Áo, Đan Mạch, Đức và Thụy Sĩ.
  • Ngày 25 tháng 3 năm 1911, 145 nữ công nhân, phần lớn là di dân người Ái Nhĩ Lan và người Do Thái của hãng Triangle Shirtwaist Company tại Thành phố New York đã chết trong một vụ cháy trong xưởng dệt. Họ không có ngõ thoát ra ngoài được: cửa xưởng đã được khóa chặt để công nhân không được ra ngoài trước khi hết giờ làm việc (Điều này đã thúc đẩy việc sửa đổi luật lệ lao động). Có khoảng 80.000 người diễn hành trong các đường phố đễ đưa đám tang lớn của 145 nạn nhân chết cháy.
  • Năm 1912, 14.000 công nhân hãng dệt đình công và la Lớn "Better to starve fighting than starve working" (Chết đói vì chiến đấu hơn là chết đói vì làm việc). Nữ công nhân nghỉ việc 3 tháng.
  • Năm 1912, nhà thơ Mỹ James Oppenheim (1882-1932) viết bài thơ Bread and Roses sau lần diễn hành 14.000 đình công tại Lawrence, Massachusetts. Sự can đảm của họ đã làm cảm hứng bài Bread and Roses, thường đi hát trong ngày Quốc tế Phụ nữ.
  • Ngày 8 tháng 3 năm 1914: Phụ nữ Đức đòi quyền bầu cử nhưng đến ngày 12 tháng 10 năm 1918 mới được chấp thuận.
  • Ngày 23 tháng 2 năm 1917 theo lịch Nga, nhằm ngày 8 tháng 3 dương lịch, các nữ công nhân Nga đã ra đường biểu tình đình công, đòi bánh mì và đòi trả chồng con họ trờ về từ chiến trận. Cuộc đình công này đã khiến Sa hoàng Nicolas II phải thoái vị và góp phần rất lớn vào cuộc Cách mạng tháng Mười ở Nga.
  • Ngày 21 tháng 4 năm 1944, Quốc hội Pháp chấp nhận quyền bầu cử cho phụ nữ Pháp. Phụ nữ Pháp đã đi bầu hội đồng thành phố lần đầu tiên vào ngày 20 tháng 4 năm 1945. Trong lúc đó đàn ông Pháp đã được đi bầu từ năm 1848, tức là từ một thế kỷ trước 8 tháng 3 năm 1948, tại nước Pháp, 100.000 phụ nữ đã tổ chức một cuộc diễn hành tại Paris, từ Place de la République đến tượng Jeanne d’Arc.
  • Từ năm 1950 tại Việt Nam, vào ngày mùng 6 tháng hai âm lịch mỗi năm đều có tổ chức ngày lễ Hai Bà Trưng ở Sài Gòn, và sau đó đã dùng ngày lễ này làm ngày Phụ nữ. Mỗi năm dều chọn một nữ sinh trường Trưng Vương và một nữ sinh trường Gia Long đóng vai Hai Bà Trưng ngồi trên bành voi trong dịp cử hành lễ.
  • Năm 1971, Thụy Sĩ chấp nhận quyền bầu cử cho phụ nữ.
  • 8 tháng 3 năm 1975, Liên Hiệp Quốc bắt đầu chú ý và tổ chức ngày Quốc tế Phụ nữ.
  • Năm 1977, nghĩa là hai năm sau ngày Quốc tế Phụ nữ, Liên Hiệp Quốc quyết định mời các nước dành một ngày để nói lên quyền lợi của người phụ nữ và hòa bình thế giới. Và ngày 8 tháng 3 được chọn để trở thành ngày lễ chung cho nhiều quốc gia trên thế giới.


Hiện nay ngày Quốc tế Phụ Nữ vẫn còn được xem là ngày lễ chính thức tại những nước sau đây: Armenia, Azerbaijan, Belarus, Bulgaria, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Macedonia, Moldova, Mông Cổ, Nga, Tajikistan, Ukraine, Uzbekistan, và Việt Nam. Trong những xã hội này, đàn ông tặng hoa và quà cho những người phụ nữ trong đời của họ như mẹ, vợ, bạn gái, vv.vv. Tại một số nơi, nó cũng được xem tương đương với Ngày Hiền Mẫu (Mother's Day).

Nguồn : thdnd.info

I.Chủ tịch công đoàn qua các thời kỳ

    1. Trần Ngọc An: 1999 – 2001
    2. Dương Thị Hải Yến: 2001 
    3. Dương Xuân Trường  đến nay.
II.Ban chấp hành công đoàn hiện nay
   1. Dương Xuân Trường: Chủ tịch
   2.  Nguyễn Thị Tuyết Nhung : P chủ tịch
   3. Võ Thị Ngọc Lan: Uỷ viên
   4. Võ Dụng: Uỷ viên
   5. Nguyễn Thanh Quang : Ủy viên